ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Một trong những đặc trưng cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là tính chung thẩm của phán quyết trọng tài. Theo khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (sau đây gọi là “Luật TTTM”), phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án của Tòa án. Tuy nhiên, để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tố tụng trọng tài và bảo vệ trật tự công cộng, pháp luật vẫn dành cho các bên tranh chấp một cơ chế giám sát tư pháp hạn chế: quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài.

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài

Theo khoản 2 Điều 68 của Luật TTTM, phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong năm trường hợp sau đây:

Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Nếu thỏa thuận trọng tài không tồn tại, hoặc tồn tại nhưng vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật TTTM (ví dụ: tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền trọng tài, người xác lập thỏa thuận không có năng lực hành vi dân sự, hình thức thỏa thuận không tuân thủ quy định của luật, hoặc thỏa thuận được xác lập do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trái pháp luật), thì Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ việc ngay từ đầu, và phán quyết trên cơ sở đó không có giá trị pháp lý.

Thành phần Hội đồng Trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với quy định của Luật TTTM

Căn cứ này bảo vệ quyền tự định đoạt của các bên về cách thức tổ chức tố tụng trọng tài (số lượng trọng tài viên, phương thức lựa chọn/chỉ định trọng tài viên, ngôn ngữ, địa điểm trọng tài…) cũng như bảo đảm tuân thủ các quy định bắt buộc của Luật TTTM về trình tự, thủ tục. Vi phạm phải mang tính nghiêm trọng, ảnh hưởng thực chất đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên yêu cầu hủy, chứ không phải là mọi sai sót về mặt hình thức, thủ tục đều dẫn đến hủy phán quyết.

Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài

Trường hợp phán quyết có nội dung vượt quá thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài hoặc giải quyết những vấn đề không thuộc phạm vi thỏa thuận trọng tài, thì phần nội dung vượt thẩm quyền đó bị hủy. Luật quy định rõ đây là căn cứ hủy có thể áp dụng chỉ hủy phần vượt thẩm quyền, không nhất thiết hủy toàn bộ phán quyết nếu phần còn lại có thể tách bạch độc lập.

Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng Trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài

Đây là căn cứ mang tính “gian lận tố tụng”, bảo vệ tính liêm chính của quá trình xét xử trọng tài. Bên yêu cầu hủy phải chứng minh được mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gian lận (chứng cứ giả mạo hoặc trọng tài viên nhận lợi ích vật chất) với nội dung phán quyết.

Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Đây là căn cứ mang tính khái quát, phản ánh cơ chế bảo lưu trật tự công cộng tương tự như quy định về từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài. Trên thực tiễn xét xử, đây cũng là căn cứ được viện dẫn phổ biến nhất nhưng đồng thời gây nhiều tranh cãi nhất do thiếu tiêu chí xác định rõ ràng thế nào là “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Về nguyên tắc, Tòa án cần áp dụng căn cứ này một cách thận trọng, hạn chế, chỉ trong trường hợp phán quyết vi phạm những nguyên tắc pháp lý mang tính nền tảng, cốt lõi của hệ thống pháp luật (ví dụ: nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, không trái đạo đức xã hội.

Thủ tục yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài

Chủ thể và đơn yêu cầu

Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thuộc về các bên tranh chấp (nguyên đơn, bị đơn) đã tham gia tố tụng trọng tài. Thời hạn nộp đơn là 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài — thời điểm tính thời hạn là ngày bên yêu cầu thực tế nhận được phán quyết, không phải ngày phán quyết được lập hay ban hành. Trường hợp bên yêu cầu chứng minh được việc nộp đơn quá hạn là do sự kiện bất khả kháng, thì khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn 30 ngày nêu trên.

Đơn yêu cầu phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho căn cứ hủy được viện dẫn là có cơ sở và hợp pháp.

  • Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bao gồm (không giới hạn): ngày, tháng, năm làm đơn; tên, địa chỉ của bên yêu cầu và bên có liên quan; căn cứ pháp lý và cơ sở thực tế của yêu cầu hủy; yêu cầu cụ thể của bên làm đơn.
  • Kèm theo đơn yêu cầu phải có: Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; và bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

Thẩm quyền và trình tự giải quyết tại Tòa án

Theo Điều 7 Luật TTTM (đã được sửa đổi, bổ sung), Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là Tòa án nhân dân nơi Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết (theo quy định hiện hành là Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ tương ứng).

Trình tự xử lý đơn:

  • Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án có trách nhiệm thông báo ngay cho Trung tâm Trọng tài hoặc các Trọng tài viên của Hội đồng Trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp.
  • Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý, Chánh án Tòa án chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán, trong đó một người làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
  • Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn yêu cầu phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Tòa án có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày làm việc trước ngày mở phiên họp để Viện kiểm sát tham dự phiên họp.
  • Tại phiên họp, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 Luật TTTM và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định — không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng Trọng tài đã giải quyết. Sau khi nghe ý kiến của những người được triệu tập (nếu có) và ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.
  • Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một trong hai quyết định: hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài. Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.

Cơ chế tạm đình chỉ để tạo điều kiện khắc phục sai sót tố tụng

Một điểm đáng chú ý của Luật TTTM là cơ chế tạm đình chỉ để khắc phục sai sót trong phán quyết trọng tài trước khi bị hủy: theo yêu cầu của một bên và nếu xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng Trọng tài khắc phục sai sót tố tụng theo quan điểm của chính Hội đồng Trọng tài, nhằm loại bỏ căn cứ hủy phán quyết. Hội đồng Trọng tài có trách nhiệm thông báo cho Tòa án về việc khắc phục sai sót; nếu Hội đồng Trọng tài không tiến hành khắc phục, Hội đồng xét đơn yêu cầu tiếp tục xét đơn theo thủ tục thông thường.

Quy định này cũng được phản ánh tại Điều 45.3 Quy tắc VIAC: trong quá trình Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, một bên hoặc các bên có quyền kiến nghị Tòa án tạm đình chỉ xét đơn để Hội đồng Trọng tài thực hiện các biện pháp, thủ tục cần thiết theo quan điểm của Hội đồng Trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài — thể hiện sự phối hợp giữa cơ chế trọng tài thể chế và cơ chế giám sát tư pháp nhằm bảo toàn giá trị của phán quyết trọng tài ở mức tối đa có thể.

Cơ sở pháp lý

  1. Luật trọng tài thương mại năm 2010
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  3. Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại
  4. Quy tắc tố tụng trọng tài VIAC 2026

𝐋𝐈𝐍𝐂𝐎𝐍 𝐋𝐀𝐖 𝐅𝐈𝐑𝐌 – 𝐇𝐨̛̣𝐩 𝐭𝐚́𝐜 𝐯𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐛𝐞̂̀𝐧

Bình Luận

Bình Luận

Chưa có bình luận nào.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *