Cơ chế ngừng hoạt động dự án đầu tư đóng vai trò là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm sự chủ động của nhà đầu tư trong quản trị dự án, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Theo khung pháp lý hiện hành, việc tạm ngừng toàn bộ hoặc một phần dự án được phân định thành hai nhóm trường hợp chính: (i) nhà đầu tư tự nguyện ngừng hoạt động và thực hiện nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư; và (ii) cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định buộc dừng hoạt động. Quy chế này được áp dụng thống nhất cho tất cả các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, không phân biệt tư cách nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài.
1. Các trường hợp áp dụng
Theo Luật Đầu tư 2025 (có hiệu lực từ 01/3/2026), việc ngừng hoạt động của dự án đầu tư được phân theo hai nhóm chủ thể: (i) nhà đầu tư chủ động ngừng hoạt động dự án và có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư; và (ii) cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ) ra quyết định buộc ngừng hoặc ngừng một phần hoạt động của dự án. Quy định này áp dụng cho tất cả dự án đầu tư đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, không phân biệt nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài.
2. Các căn cứ cụ thể để ngừng hoạt động dự án
Đối với trường hợp nhà đầu tư tự nguyện ngừng hoạt động, thường xuất phát từ nhu cầu tái cơ cấu sản xuất, kinh doanh hoặc do sự kiện bất khả kháng. Đáng chú ý, nếu việc ngừng hoạt động xuất phát từ bất khả kháng, nhà đầu tư sẽ được xem xét miễn tiền thuê đất, giảm tiền sử dụng đất trong thời gian ngừng hoạt động để khắc phục hậu quả.
Đối với trường hợp cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định ngừng hoặc ngừng một phần hoạt động dự án, các căn cứ bao gồm: nhu cầu bảo vệ di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo pháp luật về di sản văn hóa; khắc phục vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo đề nghị của cơ quan quản lý môi trường; thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn lao động theo đề nghị của cơ quan quản lý lao động; theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc phán quyết trọng tài; hoặc khi nhà đầu tư đã bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị cơ quan đăng ký đầu tư nhắc nhở bằng văn bản về việc không thực hiện đúng nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng vẫn tiếp tục vi phạm (trừ vi phạm về tiến độ dự án). Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định ngừng, ngừng một phần hoạt động dự án nếu việc triển khai gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, môi trường.
3. Thủ tục pháp lý cần thực hiện
Tên thủ tục: Thông báo/quyết định ngừng hoạt động dự án đầu tư.
Đối với trường hợp nhà đầu tư chủ động ngừng hoạt động, nhà đầu tư gửi văn bản thông báo đến cơ quan đăng ký đầu tư nơi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư. Đối với trường hợp bị buộc ngừng hoạt động, cơ quan có thẩm quyền (cơ quan đăng ký đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ tùy tính chất vụ việc) ban hành quyết định ngừng hoặc ngừng một phần hoạt động, nêu rõ căn cứ pháp lý và yêu cầu khắc phục (nếu có). Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện, trình tự, thủ tục và thời hạn ngừng hoạt động của dự án đầu tư tại các văn bản hướng dẫn thi hành.
Kết quả: Quyết định hoặc thông báo ngừng hoạt động dự án đầu tư được ghi nhận trên hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư, làm cơ sở cho việc theo dõi, xử lý các bước tiếp theo.
4. Hậu quả pháp lý nếu không khắc phục
Việc ngừng hoạt động dự án không đồng nghĩa với việc dự án đương nhiên chấm dứt — tuy nhiên, nếu nhà đầu tư không có khả năng khắc phục các điều kiện dẫn đến việc bị ngừng hoạt động, hoặc dự án đã ngừng hoạt động liên tục 12 tháng mà cơ quan đăng ký đầu tư không thể liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp, cơ quan đăng ký đầu tư sẽ ra quyết định chấm dứt hoặc chấm dứt một phần hoạt động của dự án đầu tư. Ngoài hai căn cứ trên, dự án còn có thể bị chấm dứt trong các trường hợp khác như: quá 24 tháng không hoàn thành mục tiêu hoạt động theo tiến độ đã chấp thuận; không được tiếp tục sử dụng địa điểm đầu tư và không điều chỉnh địa điểm trong 06 tháng; thuộc diện bị thu hồi đất; không thực hiện ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án theo quy định. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động khắc phục nguyên nhân dẫn đến ngừng hoạt động trong thời hạn quy định để tránh nguy cơ bị chấm dứt toàn bộ dự án.
Căn cứ pháp lý:
- Luật Đầu tư 2025 (Luật số 143/2025/QH15) – Điều 35, Điều 36, Điều 51.
𝐋𝐈𝐍𝐂𝐎𝐍 𝐋𝐀𝐖 𝐅𝐈𝐑𝐌 – 𝐇𝐨̛̣𝐩 𝐭𝐚́𝐜 𝐯𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐛𝐞̂̀𝐧
- Tại Hà Nội: Tầng 4, Tòa nhà Sudico, đường Mễ Trì, phường Từ Liêm, TP. Hà Nội
- Tại TP.HCM: 272 Đỗ Pháp Thuận, phường Bình Trưng, TP. Hồ Chí Minh
- Website: http://linconlaw.vn/
- Email: Lawyer@linconlaw.vn
- Facebook: https://www.facebook.com/Linconlawfirmm
- Linkedln: linkedin.com/in/lincon-law-firm-100b96201
- Hotline: +84.987.733.358

